Bệnh rubella: Tổng hợp nguyên nhân và triệu chứng

Rubella là gì?

Rubella là một loại bệnh cấp tính do vi rút cùng tên gây ra. Các biểu hiện của chúng bao gồm sốt kéo dài khoảng 3 ngày, nổi hồng ban dát sẩn và hạch to.

Ban đầu, rubella được gọi là bệnh sởi 3 ngày hoặc bệnh sốt phát ban thứ 3 ở trẻ em. Về sau, nó được đổi tên thành sởi Đức vì được mô tả chi tiết lần đầu tiên vào năm 1750 bởi các bác sĩ người Đức.

Vì lây truyền qua đường không khí nên bệnh rất dễ tạo thành một trận dịch. Đối với người lớn và trẻ em, bệnh thường tự khỏi và có thể phòng ngừa bằng vắc xin.

Tuy nhiên, nhiễm rubella trong thai kỳ rất nguy hiểm. Lý do là vì thai nhi sẽ có nguy cơ cao bị các dị tật bẩm sinh nặng nề.

Hiện nay, nhờ vào việc tiêm phòng cho trẻ em và phụ nữ trước khi mang thai, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đáng kể.

Năm 2010, WHO đã công bố loại trừ được rubella ở khu vực châu Mỹ. Mặc dù vậy, chúng vẫn còn lưu hành phổ biến ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Tác nhân

Rubella là một loại vi rút hình cầu chứa ARN chuỗi đơn, đường kính khoảng 60 nm. Vi rút chỉ có một típ huyết thanh và con người là ký chủ tự nhiên duy nhất của chúng.

Vi rút có đề kháng rất kém và dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn thông thường. Ngoài ra, tia cực tím, nhiệt độ trên 56°C hoặc dưới -10°C cũng có thể bất hoạt vi rút.

Do thời điểm bắt đầu lây bệnh sớm và có nhiều trường hợp nhiễm rubella không triệu chứng nên biện pháp cách ly thường kém hiệu quả.

Ở trẻ bị rubella bẩm sinh, vi rút vẫn tiếp tục được thải ra ngoài thông qua dịch tiết hô hấp và nước tiểu. Tình trạng này có thể kéo dài trong nhiều tháng và có thể đến khi trẻ 2 tuổi.

Cơ chế gây bệnh

Rubella có thể lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc giọt bắn từ nước bọt của người bị nhiễm. Người nhiễm có thể lây truyền bệnh từ 5 ngày trước khi có triệu chứng cho đến 6 ngày sau khi phát ban.

Sau khi tiếp xúc, virus sẽ bám và xâm nhập vào biểu mô đường hô hấp tại hầu họng. Tại đây, chúng sẽ tăng sinh hoặc đi đến các vùng bạch huyết lân cận. Sau đó virus vào máu và di chuyển đến hệ võng nội mô như gan, lách.

Virus sẽ tiếp tục nhân lên trong gan và lách. Khi đủ số lượng, chúng sẽ xâm nhập vào trong các bạch cầu và di chuyển khắp cơ thể.

Cơ chế phát ban trong bệnh rubella vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, người ta quan sát thấy khi ban xuất hiện cũng là lúc không còn vi rút trong máu. Từ đó nhiều giả thuyết cho rằng phát ban là sự đáp ứng của hệ miễn dịch trong khi tiêu diệt virus.

Khoảng 85% trường hợp thai phụ bị nhiễm rubella trong ba tháng đầu sẽ gây dị tật cho thai nhi. Nguy cơ này giảm còn 50% nếu mẹ bị nhiễm lúc mang thai 13 đến 16 tuần. Sau 16 tuần, hầu như không còn ghi nhận thấy trường hợp dị tật bẩm sinh do rubella.

Triệu chứng

Hội chứng nhiễm siêu vi:

Các triệu chứng thường xuất hiện vào 5 ngày trước khi phát ban, bao gồm sốt nhẹ, đau mắt, đau họng, nghẹt mũi, ho khan, đau khớp và rối loạn tiêu hóa.

Đau khớp thường chỉ thoáng qua và đa phần xảy ra ở người lớn, đặc biệt là phụ nữ.

Sau đó, các triệu chứng đặc hiệu hơn sẽ xuất hiện như phát ban, nổi hạch vùng chẩm. Ngoài ra, ở giai đoạn này người bệnh có thể xuất hiện dấu Forchheimer.

Dấu Forchheimer là những chấm xuất huyết ở khẩu cái (thành trên vòm họng). Khoảng 20% trường hợp nhiễm Rubella có xuất hiện dấu hiệu này. Chúng thường biểu hiện trước khi phát ban và biến mất nhanh chóng sau khi ban lặn.

Tuy nhên, đây không phải là dấu hiệu điển hình giúp chẩn đoán Rubella. Lý do là vì chúng cũng có thể xuất hiện trong các bệnh khác như sốt tinh hồng nhiệt, tăng đơn nhân nhiễm khuẩn.

Nổi hạch viêm:

Nổi hạch viêm là triệu chứng nổi bật nhất. Về nguyên tắc, bất kỳ nhóm hạch nào cũng có khả năng bị viêm. Tuy nhiên trên thực tế, nhóm hạch hay bị nhất là hạch sau tai, hạch chẩm và hạch cổ sau.

Kích thước hạch trên 1 cm, di động, đau rõ nhất vào ngày phát ban. Sau đó, chúng sẽ giảm đau và lặn dần trong vài tuần.

Mặc dù nổi hạch không phải triệu chứng đặc trưng giúp chẩn đoán bệnh nhưng chúng luôn là biểu hiện nổi bật nhất. Hạch trong Rubella thường xuất hiện và tồn tại kéo dài hơn so với sởi và sốt tinh hồng nhiệt.

Phát ban:

Thời điểm xuất hiện ban da cũng là lúc các triệu chứng kể trên (như sốt, nghẹt mũi, ho khan) dần biến mất.

Thời gian phát ban trung bình là 3 ngày. Trình tự phát ban thường bắt đầu từ mặt và lan ra toàn bộ cơ thể trong 24 giờ.

Đến cuối ngày thứ nhất, ban sẽ lan ra toàn thân, dạng dát sẩn hoặc hồng ban, màu hồng đỏ nhạt, rời rạc. Sau đó, chúng sẽ mất dần trong 2 đến 3 ngày cũng theo trình tự từ mặt xuống thân.

Sau ngày thứ 3, ban sẽ biến mất hết mà không để lại dấu vết hay sẹo. Trong trường hợp ban nổi nhiều, khi chúng lặn da thường sẽ bị bong ra như vảy cám.

Ban có dạng đỏ và dát sẩn. Ở thanh thiếu niên, chúng có thể bị nhầm lẫn với mụn trứng cá. Đối với người lớn, ban thường gây ngứa.

Rubella bẩm sinh

Cũng giống như nhiều bệnh siêu vi khác, triệu chứng ở trẻ em nhiễm rubella thường nhẹ hơn so với người lớn. Tuy nhiên, nhiễm rubella trong thai kỳ lại rất trầm trọng vì nguy cơ thai bị dị tật rất cao và nặng nề.

Thai phụ bị Rubella có thể dẫn đến sẩy thai sớm hoặc thai lưu. Dị tật bẩm sinh xảy ra ở 85% trẻ sơ sinh bị nhiễm trong ba tháng đầu thai kỳ. Ngược lại, hầu như không có dị tật nào xảy ra nếu trẻ bị nhiễm sau 16 tuần.

Khi trẻ sinh ra, các biểu hiện nhiễm Rubella bao gồm nổi hạch toàn thân, gan lách to, viêm gan, vàng da, thiếu máu tán huyết, viêm phổi, viêm màng não và tiêu chảy. Hơn 50% trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ bị nhẹ cân và chậm phát triển sau sinh.

Việc phát hiện rubella bẩm sinh trong thai kỳ là cực kỳ khó. Vì vậy, tiêm ngừa cho thai phụ trước khi có ý định mang thai là điều rất cần thiết.

Dị tật cơ quan:

Các di chứng của bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ cơ quan nào. Trong đó, phổ biến nhất là tim, mắt, não và thính giác.

Điếc thần kinh thính giác là biểu hiện phổ biến nhất của hội chứng Rubella bẩm sinh. Khoảng hơn 50% trẻ sẽ bị khiếm thính trong suốt cuộc đời và không thể hồi phục.

Dị tật về tim cũng xuất hiện trên 50% số trẻ mắc bệnh Rubella. Trong đó, phổ biến nhất là tật còn ống động mạch, hẹp động mạch phổi và thông liên thất.

Bệnh võng mạc xảy ra ở 20% đến 50% trẻ sơ sinh, đa số là tật đục thủy tinh thể. Tăng nhãn áp và các bất thường khác về giác mạc cũng có thể xuất hiện nhưng muộn hơn.

Chậm phát triển thần kinh:

Một số trẻ sau khi mắc Rubella bẩm sinh sẽ có biểu hiện thần kinh trung ương khi lớn lên. Các bất thường thần kinh này bao gồm chậm phát triển trí tuệ, tật đầu nhỏ, rối loạn hành vi và viêm não mãn tính.

Chậm phát triển có thể là do tổn thương thần kinh trong tử cung hoặc viêm não cấp tính và mãn tính gây ra.

Một số biểu hiện về tâm thần khác như rối loạn thần kinh, chứng tự kỷ cũng xảy ra ở một phần ba các trường hợp.

Biến chứng

Xuất huyết da niêm:

Biến chứng xuất huyết da niêm gặp ở 1/3000 trường hợp rubella, đặc biệt là ở trẻ em. Bé gái thường mắc bệnh nhiều hơn bé trai. Việc này được cho là do giảm tiểu cầu và sức bền thành mạch trong thời gian mắc bệnh.

Biểu hiện trên lâm sàng thường là xuất huyết điểm dưới da, chảy máu cam và nướu răng. Các triệu chứng này xảy ra đột ngột vào khoảng ngày thứ 5 tính từ lúc ban xuất hiện.

Viêm não cấp tính:

Xảy ra khoảng 0,02% trường hợp nhiễm rubella sau sinh. Triệu chứng tương tự như các bệnh viêm não siêu vi khác (gồm sốt cao, đau đầu, chóng mặt, liệt nửa người). Rối loạn tri giác và co giật ít gặp trong viêm não do rubella. Chọc dịch não tủy thường cho kết quả như sau:

  • Tăng bạch cầu nhưng dưới 300 tế bào/mm3 (trên 50% là lympho).
  • Protein bình thường hoặc tăng nhẹ.
  • Đường và lactate bình thường.

Tiên lượng bệnh rất thay đổi, nhưng đa số là nhẹ, tự khỏi và không để lại di chứng. Hiện nay tử vong do rubella rất hiếm gặp.

Viêm não tiến triển:

Đây là một bệnh thoái hóa tiến triển hệ thần kinh trung ương xảy trễ, khoảng 8 đến 20 năm sau khi nhiễm rubella.

Biểu hiện chủ yếu của bệnh là thay đổi hành vi và học hành sa sút, sau đó là sa sút trí tuệ (dementia), thất điều tiểu não, yếu cơ, rung giật cơ và co giật.

Bệnh thường tử vong trong vòng 2 đến 5 năm kể từ khi được phát hiện. Trên phim cộng hưởng (MRI) sẽ cho hình ảnh bệnh lý chất trắng và teo mô não lan tỏa.

Một số biến chứng khác hiếm gặp hơn là viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm kết mạc, thiếu máu tán huyết, viêm dây thần kinh ngoại biên, viêm tinh hoàn và viêm gan.

Xét nghiệm

Biểu hiện của rubella kém đặc hiệu nên không thể chẩn đoán mà chỉ dựa vào lâm sàng. Vì vậy, các xét nghiệm đóng vai trò quyết định trong việc chẩn đoán.

Hiện nay, chỉ có 2 xét nghiệm giúp xác định chính xác tình trạng nhiễm Rubella. Đó là huyết thanh chẩn đoán và kỹ thuật RT-PCR.

Huyết thanh chẩn đoán:

Sự xuất hiện của kháng thể IgM hoặc sự gia tăng nồng độ kháng thể gấp bốn lần trong máu là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán Rubella. Chẩn đoán huyết thanh bằng ELISA là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay.

Tuy nhiên, xét nghiệm ELISA tìm IgM có thể cho kết quả âm tính giả nếu làm sớm trước 5 ngày đầu của bệnh. Trong trường hợp này, cần làm lại một lần nữa ở thời điểm trễ hơn.

Kỹ thuật RT-PCR:

PCR có thể phát hiện được virus trong vòng 5 ngày đầu, thời điểm mà ELISA còn cho kết quả âm tính. Đây được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bệnh. Bệnh phẩm lấy từ phết mũi họng sẽ cho kết quả tốt nhất.

Ngoài ra, PCR còn giúp phân biệt được rubella chủng hoang dại với các chủng vắc xin.

Cấy phân lập vi rút:

Virus Rubella có thể được phân lập từ dịch tiết mũi họng, nước tiểu và dịch não tủy. Tuy nhiên, xét nghiệm này rất tốn kém và đòi hỏi kỹ thuật cao.

Đồng thời, việc trả kết quả khá lâu (mất từ 3 đến 4 tuần) và độ chính xác cũng không cao. Vì vậy cấy phân lập virus thường ít được sử dụng trên lâm sàng.

Điều trị

Hiện nay, không có điều trị đặc hiệu nào cho bệnh. Như đã kể trên, ngoại trừ rubella bẩm sinh, hầu như các trường hợp còn lại đều sẽ có diễn tiến tốt và khỏi bệnh sau 4 đến 7 ngày. Vì vậy, điều trị chủ yếu là hạ sốt hoặc giảm đau trong trường hợp có viêm khớp.

Việc điều trị globulin ở thai phụ có nguy cơ nhiễm rubella chỉ làm giảm triệu chứng ở mẹ chứ không giúp giảm tỷ lệ dị tật của thai nhi. Vì vậy, việc phòng ngừa rubella trong thai kỳ là quan trọng nhất.

Dự phòng

Hiện nay, việc tiêm ngừa rubella cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đang được khuyến khích. Một liều vắc xin rubella sẽ giúp cơ thể đạt được đáp ứng miễn dịch lên đến 95%.

Vaccine có thể ở dạng đơn lẻ hoặc kết hợp 3 trong 1 như MMR (sởi, quai bị, rubella).

Một nghiên cứu đã thực hiện tiêm vaccine Rubella cho 2894 phụ nữ mang thai. Kết quả cho thấy rằng không hề có trẻ nào sinh ra bị dị tật. Từ đó có thể kết luận vắc xin không làm ảnh hưởng đến thai nhi.

Tuy nhiên, về mặt an toàn, chỉ nên tiêm vắc xin trước khi có ý định mang thai ít nhất là 28 ngày. Nhưng nếu vô tình tiêm vào thời điểm đang mang thai hoặc ít hơn giới hạn nêu trên thì cũng không cần phải chấm dứt thai kỳ.

Lưu ý rằng vắc xin Rubella là loại virus sống giảm độc lực. Vì vậy, chúng không được tiêm cho các đối tượng bị suy giảm miễn dịch. Cụ thể là những người bị nhiễm HIV, đang dùng corticoid, ghép tạng,…

Kết luận

Rubella là bệnh cấp tính lây truyền qua đường hô hấp, nước bọt. Bệnh thường diễn tiến nhẹ và tự khỏi. Tuy nhiên, thai phụ khi mắc bệnh sẽ gây dị tật nặng nề cho thai nhi sau khi sinh. Hiện nay, không có phương pháp nào điều trị đặc hiệu cho bệnh. Vì vậy, việc tiêm vắc xin phòng ngừa là rất cần thiết, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.

Chia sẻ bài viết: